Thứ tư, 23/09/2026 - 13:04
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

ĐIỆN MẶT TRỜI MÁI NHÀ: TỪ MÔ HÌNH THỰC TIỄN ĐẾN GIẢI PHÁP NHÂN RỘNG

Điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đang mở ra khả năng chuyển người sử dụng điện từ vị thế phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung tập trung sang chủ động tham gia tạo nguồn điện tại chỗ. Thực tiễn triển khai tại Thanh Hóa cho thấy một số cách làm đáng chú ý, từ sự tiên phong của ngành điện, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp đến kết hợp điện mặt trời với lưu trữ, tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải. Tuy nhiên, để mô hình được nhân rộng bền vững, vẫn cần tháo gỡ những nút thắt về chính sách và thủ tục, hiệu quả đầu tư, công nghệ lưu trữ và khả năng tích hợp với hệ thống điện.

Chú thích ảnh

Điện mặt trời mái nhà tại cơ sở kinh doanh khách sạn ở xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: TTXVN phát

TỪ MỘT MÔ HÌNH ĐỊA PHƯƠNG NHÌN RA BÀI TOÁN LỚN

Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, điện mặt trời mái nhà có một đặc điểm đáng chú ý: nguồn điện được hình thành ngay tại nơi tiêu thụ. Mái nhà của hộ dân, công sở, nhà xưởng, cơ sở thương mại có thể đồng thời trở thành một phần của hạ tầng năng lượng phân tán.

Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đẩy mạnh điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; ưu tiên công sở, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và hộ gia đình; đồng thời khuyến khích kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS). Chỉ thị cũng đặt điện mặt trời mái nhà trong tổng thể quản lý nhu cầu điện, dịch chuyển và điều chỉnh phụ tải nhằm góp phần giảm công suất vào giờ cao điểm.

Thực tiễn tại Thanh Hóa là một trường hợp đáng nghiên cứu.

Theo thông tin của TTXVN đăng trên Báo Tin tức ngày 10/9/2026, trong quý II/2026, Công ty Điện lực Thanh Hóa đã hoàn thành hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại 22 trụ sở trực thuộc với tổng công suất hơn 600 kW. Đến thời điểm bài báo được công bố, 260 hộ cán bộ, công nhân viên ngành điện đã lắp đặt với tổng công suất gần 2,1 MW. Riêng tháng 8/2026 có thêm 245 khách hàng tham gia, tổng công suất đạt 27,02 MW.

Đáng chú ý hơn những con số là cách tổ chức thực hiện.

Thay vì chỉ tuyên truyền người dân lắp đặt, chính những đơn vị và cán bộ ngành điện thực hiện trước. Qua quá trình trực tiếp đầu tư, vận hành và theo dõi, họ có thêm kinh nghiệm thực tế về công suất, phụ tải, thời điểm phát điện, khả năng lưu trữ và mức độ tự dùng để tư vấn cho khách hàng.

Đây có thể xem là cách tiếp cận “làm trước – trải nghiệm thực tế – chứng minh hiệu quả – rồi vận động nhân rộng”.

Cách làm thứ hai là không tách điện mặt trời mái nhà thành một chương trình độc lập, mà gắn với tiết kiệm điện, quản lý nhu cầu điện (DSM), điều chỉnh phụ tải (DR) và lưu trữ năng lượng. Tại các khu công nghiệp và Khu kinh tế Nghi Sơn, doanh nghiệp được vận động đầu tư điện mặt trời mái nhà đồng thời chủ động dịch chuyển phụ tải khỏi những thời điểm hệ thống có yêu cầu.

Cách làm thứ ba là sự phối hợp giữa chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước và ngành điện. Công ty Điện lực Thanh Hóa phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành xây dựng kế hoạch phát triển điện mặt trời mái nhà; địa phương xác định các mục tiêu cụ thể về tiết kiệm điện, giảm phụ tải đỉnh và phát triển nguồn điện tại chỗ.

Từ một mô hình địa phương có thể nhận diện một nguyên tắc rộng hơn: phát triển điện mặt trời mái nhà hiệu quả không chỉ là câu chuyện lắp thêm những tấm pin, mà là tổ chức lại một phần phương thức sản xuất và sử dụng điện.

BA NÚT THẮT CẦN ĐƯỢC NHẬN DIỆN

Đối chiếu thực tiễn trên với các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy ít nhất ba nhóm vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ.

1. Chính sách đã mở đường nhưng tính thuận tiện, ổn định và khả năng dự báo vẫn rất quan trọng

Nghiên cứu đăng trên Energy Policy về quá trình phổ biến điện mặt trời tại Việt Nam cho thấy chính sách hỗ trợ là một động lực quan trọng, nhưng những rào cản đối với điện mặt trời mái nhà và điện mặt trời quy mô lớn không hoàn toàn giống nhau.

Một nghiên cứu khác trên Energy Policy năm 2023, sử dụng dữ liệu thực tế của Việt Nam để đánh giá các phương án chính sách điện mặt trời mái nhà, cho thấy chính sách phải cân bằng lợi ích và tính khả thi đối với cả người đầu tư và hệ thống điện.

Khung pháp lý Việt Nam hiện đã có bước tiến mới. Luật Điện lực năm 2024 cùng Nghị định số 58/2025/NĐ-CP và Nghị định số 243/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung đã tạo cơ sở pháp lý mới cho phát triển nguồn năng lượng tái tạo và điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.

Tuy nhiên, với người dân và doanh nghiệp, chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi có thể trả lời đơn giản những câu hỏi rất thực tế: được lắp bao nhiêu, thủ tục ở đâu, đấu nối thế nào, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, điện dư được xử lý thế nào và thời gian hoàn vốn dự kiến bao lâu.

Thực tiễn Thanh Hóa cho thấy việc ngành điện trực tiếp hỗ trợ thông tin về công suất, phương thức đấu nối và yêu cầu kỹ thuật là hướng đi đáng ghi nhận. Điều đó đồng thời cho thấy dịch vụ hỗ trợ thực thi chính sách tại cơ sở có ý nghĩa không kém việc ban hành chính sách.

2. Hiệu quả kinh tế phụ thuộc mạnh vào quy mô hệ thống, đặc điểm phụ tải và chi phí lưu trữ

Không phải cứ có diện tích mái lớn thì lắp công suất càng lớn càng hiệu quả.

Nghiên cứu năm 2026 của các tác giả Trường Đại học Điện lực về hệ thống điện mặt trời mái nhà tự tiêu thụ tại Phú Thọ nhấn mạnh sự cần thiết phải xác định công suất lắp đặt phù hợp với đặc điểm phụ tải hộ gia đình và thời gian hoàn vốn mong muốn.

Nghiên cứu đăng trên Journal of Energy Storage năm 2024 về hệ thống điện mặt trời mái nhà kết hợp pin lithium tại ba khu vực của Việt Nam cũng cho thấy hiệu quả kinh tế khác biệt đáng kể theo điều kiện bức xạ và địa điểm. Thời gian hoàn vốn được tính toán khoảng 12,4 năm tại Hải Phòng, 10,7 năm tại Bình Định và 9,9 năm tại Vũng Tàu.

Điều đó cho thấy không thể sử dụng một mô hình đầu tư giống nhau cho mọi địa phương, mọi hộ gia đình và doanh nghiệp.

Pin lưu trữ giúp nâng cao tỷ lệ tự tiêu thụ và khả năng chủ động nguồn điện, nhưng đồng thời làm tăng vốn đầu tư ban đầu. Vì vậy, bài toán không chỉ là “có nên lắp điện mặt trời hay không”, mà phải chuyển sang lắp công suất bao nhiêu, dung lượng lưu trữ bao nhiêu và vận hành vào thời điểm nào để đạt hiệu quả tối ưu.

3. Phát triển nhanh nguồn điện phân tán đặt ra yêu cầu mới đối với lưới điện và quản trị hệ thống

Khi số lượng hệ thống điện mặt trời mái nhà còn nhỏ, ảnh hưởng lên hệ thống điện có thể chưa đáng kể. Nhưng khi hàng trăm nghìn mái nhà trở thành những nguồn phát phân tán, vấn đề sẽ khác.

Nghiên cứu về các rào cản đầu tư điện mặt trời và điện gió tại Việt Nam đã đặt vấn đề về khả năng mở rộng lưới và khả năng tiếp nhận nguồn năng lượng tái tạo. Trong khi đó, nghiên cứu về nhận thức và lựa chọn điện mặt trời mái nhà tại Việt Nam công bố trên Renewable and Sustainable Energy Reviews cho thấy quy trình đấu nối hiệu quả, minh bạch và khả năng tiếp cận pin lưu trữ với chi phí phù hợp có vai trò quan trọng đối với quyết định đầu tư.

Vì vậy, phát triển điện mặt trời mái nhà trong giai đoạn tới phải được nhìn đồng thời từ hai phía: nguồn điện phân tán và năng lực điều hành hệ thống điện.

Nếu chỉ khuyến khích tăng số lượng hệ thống mà thiếu dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật, đo đếm thông minh và cơ chế điều phối phù hợp, lợi ích của nguồn điện phân tán có thể không được khai thác đầy đủ.

NĂM GIẢI PHÁP ĐỂ ĐIỆN MẶT TRỜI MÁI NHÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Một là, tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng ổn định, minh bạch và dễ thực hiện

Cần tiếp tục rà soát quá trình thực thi Nghị định số 58/2025/NĐ-CP sau khi được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 243/2026/NĐ-CP, đặc biệt từ góc nhìn của người dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư.

Điều quan trọng không chỉ là giảm số lượng thủ tục mà còn phải giảm chi phí tuân thủ và sự không chắc chắn. Có thể nghiên cứu cơ chế “một cửa” hoặc nền tảng số thống nhất để người đầu tư kiểm tra điều kiện, khai báo hệ thống, nhận hướng dẫn đấu nối và theo dõi tiến độ xử lý.

Hai là, chuyển từ tư vấn “lắp đặt thiết bị” sang tư vấn “bài toán năng lượng”

Kinh nghiệm Thanh Hóa cho thấy việc cán bộ ngành điện trực tiếp sử dụng hệ thống trước khi tư vấn khách hàng đem lại giá trị thực tiễn.

Cách làm này có thể nghiên cứu nhân rộng. Đơn vị tư vấn cần giúp người dân, doanh nghiệp phân tích biểu đồ phụ tải, lượng điện tiêu thụ ban ngày, diện tích mái, bức xạ mặt trời, công suất tối ưu, tỷ lệ tự tiêu thụ, dung lượng pin và thời gian hoàn vốn.

Mục tiêu không phải lắp được nhiều nhất, mà là lắp đúng nhu cầu và khai thác hiệu quả nhất.

Ba là, xây dựng các công cụ tài chính phù hợp, đặc biệt đối với hệ thống lưu trữ

Vốn đầu tư ban đầu vẫn là rào cản đối với nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ. BESS càng làm bài toán vốn trở nên đáng chú ý.

Có thể nghiên cứu các gói tín dụng xanh dài hạn; cơ chế bảo lãnh hoặc chia sẻ rủi ro đối với một số nhóm đối tượng; mô hình thuê thiết bị hoặc trả chi phí theo mức tiết kiệm; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, bảo hành và tái chế pin.

Chính sách hỗ trợ, nếu có, nên hướng vào hiệu quả hệ thống và khả năng giảm phụ tải đỉnh, thay vì đơn thuần khuyến khích tăng công suất lắp đặt.

Bốn là, gắn điện mặt trời mái nhà với lưu trữ, DSM/DR và lưới điện thông minh

Đây có thể là bước chuyển quan trọng nhất.

Một mái nhà có pin mặt trời chỉ tạo ra nguồn điện. Nhưng khi kết hợp pin mặt trời + BESS + công tơ thông minh + quản lý phụ tải, nó có thể trở thành một đơn vị năng lượng chủ động.

Khi hàng nghìn đơn vị như vậy được kết nối và quản lý bằng dữ liệu, chúng có khả năng góp phần giảm công suất đỉnh, dịch chuyển phụ tải và hỗ trợ vận hành hệ thống.

Do đó cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu số về các nguồn điện phân tán; phát triển công tơ và hệ thống quản lý năng lượng thông minh; nghiên cứu dự báo phát điện theo thời tiết và phụ tải; đồng thời thí điểm các mô hình điều phối nguồn phân tán ở những địa phương có tỷ lệ điện mặt trời mái nhà cao.

Năm là, lựa chọn những mô hình tốt để thí điểm, đánh giá và nhân rộng

Thanh Hóa cung cấp một kinh nghiệm đáng chú ý: cơ quan và người làm công tác điện lực thực hiện trước, có dữ liệu và trải nghiệm thật rồi mới vận động xã hội tham gia.

Cần lựa chọn một số tỉnh, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công sở và khu dân cư có điều kiện khác nhau để xây dựng mô hình mẫu. Mỗi mô hình cần được đánh giá bằng những chỉ số định lượng: vốn đầu tư, sản lượng điện, tỷ lệ tự tiêu thụ, lượng điện mua từ lưới giảm được, mức giảm phụ tải đỉnh, hiệu quả của BESS, thời gian hoàn vốn và lượng phát thải tránh được.

Khi những số liệu này được công khai, người dân và doanh nghiệp có thể tự đánh giá hiệu quả thay vì chỉ tiếp nhận thông tin tuyên truyền.

TỪ “MÁI NHÀ CÓ ĐIỆN” ĐẾN “NGƯỜI TIÊU DÙNG NĂNG LƯỢNG CHỦ ĐỘNG”

Giá trị lớn nhất của điện mặt trời mái nhà có lẽ không nằm ở số lượng tấm pin được lắp đặt.

Ý nghĩa sâu hơn là sự thay đổi vai trò của người sử dụng điện: từ người chỉ mua và tiêu thụ điện sang người có khả năng sản xuất – lưu trữ – quản lý – tối ưu hóa năng lượng ngay tại nơi sử dụng.

Thực tiễn Thanh Hóa cho thấy khi chính quyền, ngành điện, doanh nghiệp và người dân cùng tham gia; khi người vận động cũng là người trực tiếp trải nghiệm; và khi điện mặt trời được kết hợp với tiết kiệm điện, lưu trữ và điều chỉnh phụ tải, một nguồn năng lượng phân tán có thể tạo ra hiệu quả vượt ra ngoài phạm vi từng mái nhà.

Nếu những nút thắt về chính sách, tài chính, công nghệ và hạ tầng được tiếp tục tháo gỡ, hàng triệu mái nhà Việt Nam không chỉ có tiềm năng trở thành những điểm phát điện xanh, mà còn có thể hình thành một lớp hạ tầng năng lượng phân tán, bổ trợ cho hệ thống điện quốc gia, tăng khả năng tự chủ năng lượng, hỗ trợ chuyển dịch xanh và góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

 

Nguyễn Mạnh Hiền, Ủy viên BCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam


Tài liệu tham khảo và nguồn dẫn
  1. TTXVN/Báo Tin tức, “Điện mặt trời mái nhà mở hướng chủ động nguồn điện”, đăng ngày 10/9/2026. Nguồn dữ liệu thực tiễn về triển khai tại Thanh Hóa.

  2. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà.

  3. Chính phủ, Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 3/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới.

  4. Chính phủ, Nghị định số 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP.

  5. Energy Policy, Vol. 144 (2020), Underlying drivers and barriers for solar photovoltaics diffusion: The case of Vietnam, Article 111561, DOI: 10.1016/j.enpol.2020.111561.

  6. Energy Policy, Vol. 177 (2023), Qureshi, S.; Phan-Van, L.; Nguyen, L.D.; Nguyen-Duc, T., Rooftop solar policies feasibility assessment model: Vietnam case study, Article 113577, DOI: 10.1016/j.enpol.2023.113577.

  7. Ngo, X.C. & Do, N.Y. (2022), The Impact of Electrical Energy Consumption on the Payback Period of a Rooftop Grid-Connected Photovoltaic System: A Case Study from Vietnam, International Journal of Renewable Energy Development, 11(2), 581–589, DOI: 10.14710/ijred.2022.42981.

  8. Journal of Energy Storage, Vol. 99 (2024), Study on technical, economic, environmental efficiency of self-consumption rooftop solar power using lithium-ion battery for households in Vietnam, Article 113446, DOI: 10.1016/j.est.2024.113446.

  9. Renewable and Sustainable Energy Reviews, Vol. 208 (2025), Policy uncertainty, public perception, and the preferences for rooftop solar power systems: A choice experiment study in Vietnam, Article 115067, DOI: 10.1016/j.rser.2024.115067.

  10. Nguyen Dang Toan, Ma Thi Thuong Huyen, Vu Hoang Giang (2026), Determining the Dynamic Investment Threshold of Self-consumption Rooftop PV Systems Adapted to Residential Load Profiles: A Case Study in Phu Tho, Viet Nam, TNU Journal of Science and Technology, công bố ngày 9/6/2026.